Đặc sản Tây Bắc

  • 7 đặc sản "thần thánh" không thể bỏ lỡ khi đến với vùng cao Tây Bắc

    Du khách có dịp đến vùng cao Tây Bắc, đặc biệt là tỉnh Sơn La thì đừng bỏ qua những món ăn đặc sản thần thánh như: Canh bon nấu với da trâu da bò, món măng chua xào trứng của dân tộc Mường, Bọ xít rang nước măng chua, ruột lợn non nướng... các món ăn đặc sản dân dã này được rất nhiều khách hàng lựa chọn trong các tour du lịch dài ngày ở nơi rẻo cao Tây Bắc.

    Canh bon nấu với da trâu, da bò

    7 đặc sản "thần thánh" không thể bỏ lỡ khi đến với vùng cao Tây Bắc - 1

    Cây bon như cách gọi của người Thái, nguyên liệu chính để nấu canh, có nơi gọi là cây khoai nước. Bon ngọt, loại bon có chấm tím ở lá, được bà con chọn cây non mang về rửa sạch, tước bỏ vỏ rồi ngâm nước cho hết nhựa (có thể dùng cả rễ non của bon để nấu). 

    Nấu bon, không thể thiếu mắc khén. Nồi canh bon không được thiếu da trâu hoặc da bò. Đồng bào Thái thường tích luỹ thực phẩm để khô trên gác bếp. Da trâu, bò được bà con treo gác bếp cho khô, khi cần dùng đến thì đem đốt cho chín phồng, cạo sạch phần cháy tới khi miếng da lộ phần vàng óng, mang ngâm nước cho da mềm, sau đó đem nấu nhừ. Từ món ăn dân dã trong các gia đình đồng bào dân tộc Thái, nay canh bon được các nhà hàng dân tộc ở Tây Bắc chọn làm một trong những món canh đặc sản để giới thiệu tới du khách.

    Món măng chua xào trứng của dân tộc Mường

    7 đặc sản "thần thánh" không thể bỏ lỡ khi đến với vùng cao Tây Bắc - 2

    Đồng bào dân tộc Mường sinh sống ở bản Heo, xã Tà Hộc (huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La) thường dùng măng chua làm từ (măng bương) xào với trứng vịt hoặc trứng gà. Cách chế biến món đặc sản này rất đơn giản, gia vị và nguyên liệu gồm có tỏi, mắc khén, ớt khô, muối, mì chính, trứng... Đồng bào Mường vớt măng chua từ hũ ra chảo rồi đổ nước lã lên đun khoảng 15 phút, sau đó phi dầu ăn lên xào măng chua. Khi măng chua chín dần, thì đập trứng vào xào khoảng 5 phút thì có thể xong một món ăn. Hương vị đặc trưng của măng chua hòa quyện cùng trứng tạo nên một món ăn thơm nức múi, làm bất cứ vị khách nào cũng phải trầm trồ khen ngon. 

    Bọ xít rang nước măng chua

    7 đặc sản "thần thánh" không thể bỏ lỡ khi đến với vùng cao Tây Bắc - 3

    Hàng năm cứ đến mùa nhãn ra hoa kết trái, bà con dân tộc Thái, Mường ở Sơn La đều lên vườn nhãn bắt những con bọ xít về chế biến thành các món ăn truyền thống. Cách chế biến bọ xít rang này tương đối cầu kỳ và phức tạp. Để khử hết mùi của của bọ xít, đồng bào dân tộc phải thả vào chậu nước muối loãng một lát cho chúng phun bớt tuyến hôi. Sau đó, lại ngâm và rửa sạch trong nước măng chua một lượt nữa (nước măng chua là một loại nước khử mùi tanh, hôi cực kỳ hiệu quả, được sử dụng rất nhiều ở Sơn La trong chế biến thực phẩm).

    Tiếp theo, đồng bào dân tộc ướp bọ xít trộn đều với gia vị ớt, tỏi, muối, mì chính, nước măng chua ngâm khoảng 5 phút, rồi cho lên chảo rang vàng rộm, bày ra đĩa cùng với lá chanh thái nhỏ. Sau khi chín mùi hôi của bọ xít hoàn toàn biến mất, thay vào đó là mùi thơm của bọ xít rang và thơm nồng nhẹ của lá chanh mà thôi. Hiện nay, bọ xít trở thành món đặc sản của đồng bào dân tộc ở Sơn La được rất nhiều người săn lùng.

    Cá nướng của đồng bào dân tộc Thái

    7 đặc sản "thần thánh" không thể bỏ lỡ khi đến với vùng cao Tây Bắc - 4

    Đến với vùng đất Tây Bắc, đặc biệt là tỉnh  Sơn La trong những ngày cuối đông, du khách đừng bỏ lỡ thưởng thức món cá nướng hay còn gọi là “pa ping tộp” của người Thái Sơn La. Món đặc sản này, được người Thái chế biến và sử dụng nhiều nguyên liệu như cá trắm, trôi, chép, mương và cùng nhiều loại cá khác bắt ở các con sông, suối về tẩm ướp cùng  mác khén, ớt, tỏi, xả... đã tạo thành món cá nướng thơm lừng hấp dẫn. Cá nướng của dân tộc Thái chế biến có vị lạ miệng, thơm ngon nhờ sự pha trộn tinh tế các loại gia vị, có đủ vị cay, chua, ngọt, không làm mất đi vị cá và tôn lên vị ngọt béo của cá. Nhiều nhà hàng đã đưa cá nướng vào thực đơn chủ đạo, để thiết đãi khách hàng.

    Ruột lợn non nướng của người Mường

    7 đặc sản "thần thánh" không thể bỏ lỡ khi đến với vùng cao Tây Bắc - 5

    Đồng bào dân tộc Mường ở bản Heo, xã Tà Hộc (huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La), chế ruột non nướng bằng cách rửa sạch và bóp kỹ với muối và chanh. Sau đó, đồng bào Mường đun 1 nồi nước sôi cho thêm chút gừng và ít muối, khi nước sôi thì họ thả ruột lợn vào luộc trong nồi khoảng 2 phút. Sau đó, đồng bào dân tộc Mường vớt ruột ra và rửa lại với nước lã rồi để ráo. Sau khi để ráo xong, thì họ đem ướp ruột với hạt nêm,  mỳ chính, sa tế, nước mắm, hành tỏi ớt bằm nhuyễn, hạt tiêu xay... ngâm khoảng 2 phút cho ngấm gia vị. Sau đó đồng bào Mường cuốn ruột lợn vào cây lay, hoặc cây gỗ có tiết diện nhỏ rồi dùng lạt tre buộc chặt đặt lên bếp củi ướng đến khi chín. Món ruột lợn non nướng được đồng bào chế biến thiết đãi khách quý hoặc trong những dịp cưới, lễ Tết, tạo nên nét đẹp văn hóa riêng biệt của dân tộc Mường sinh sống ven lòng hồ sông Đà.

    Thắng cố ngựa

    7 đặc sản "thần thánh" không thể bỏ lỡ khi đến với vùng cao Tây Bắc - 6

    Thắng cố ngựa ở cao nguyên Mộc Châu (Sơn La) được nấu khá đơn giản với 12 thứ gia vị truyền thống bao gồm thảo quả, hoa hồi, quế chi, sả, ớt, gừng, và nhiều loại gia vị đặc biệt khác của dân tộc vùng cao. Trong đó, cây thắng cố chính là loại gia vị cuối cùng. Thịt và nội tạng của ngựa được rửa sạch, luộc chín, ướp trước với các loại gia vị, sau đó thả vào nồi nước dùng có xương ngựa, nội tạng, tiết và 12 loại gia vị kể trên đã được đun sôi, rồi cứ thế ninh nhừ hàng tiếng đồng hồ cho ngấm đẫm gia vị. Khi ăn, người thưởng thức có thể thêm một chút ớt, tiêu hoặc muối.

    Những bát thắng cố được múc ra phục vụ thực khách từ những chảo lớn sóng sánh thịt nạc, thịt mỡ và lục phủ ngũ tạng. Nội tạng ngựa được chế biến sạch có mùi thơm, giòn giòn, quyện với mùi cay nồng của các loại rau nhúng như cải mèo, cải ngồng, cải lẩu,... chấm với loại nước chấm đặc biệt làm từ ớt. Thắng cố ngựa có thể ăn cùng với mèn mén, bánh ngô nướng và nhâm nhi rượu ngô tạo nên một hương vị đậm đà khó cưỡng.  

    Sâu tre rang lá chanh

    7 đặc sản "thần thánh" không thể bỏ lỡ khi đến với vùng cao Tây Bắc - 7

    Những con sâu tre dài gần bằng hai đốt ngón tay, có màu trắng muốt thường sinh sống trong những cây tre non mới mọc trên các triền núi khu vực Tây Bắc như các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu. Vào thời tiết đầu thu là thời điểm loại sâu tre này phát triển nhiều nhất, có những cây tre non được đồng bào dân tộc vùng cao chặt đổ xuống lấy sâu tre được khoảng nửa kg/cây.

    Đặc sản sâu tre được đồng bào dân tộc Thái (đen) chế biến thành nhiều món ăn hấp dẫn khác nhau như: Sâu tre xào măng chua, sâu tre chiên giòn, sâu tre hấp, sâu tre đồ, sâu tre rang lá chanh… nhưng ngon nhất và phổ biến nhất là món sâu tre rang cùng với lá chanh. Bởi không chỉ đơn giản trong quá trình chế biến mà khi rang lên còn có mùi thơm khá độc đáo,s khi ăn thì giòn tan trong miệng. Với những vị khách nào đã từng lên mảnh đất (Sơn La) được thưởng thức món sâu tre rang, chắc chắn sẽ nhớ mãi cảm giác giòn tan, béo ngậy, hương vị độc đáo của món đặc sản dân tộc này.

     

    Theo 24h.com.vn

  • Những món vừa ăn vừa rùng mình chỉ có ở Tây Bắc

    Sâu tre, bọ nước, nhộng ong, da trâu thối, bọ xít... là những món ăn đậm chất vùng cao không phải ai cũng dám thử.

     

    Da trâu thối

    Những món vừa ăn vừa rùng mình chỉ có ở Tây Bắc

    Da trâu thối (Năng min) được người Thái chế biến thành những món ăn cầu kỳ. Da để lông xong ủ bằng lá chuối kín, để 2 ngày vào mùa hè, và lâu hơn nếu mùa đông. Khi nào có mùi thì rửa lông sẽ tự rụng hết. Sau đó phơi, nấu canh bon, hoa chuối (cho thêm bột gạo nếp như món súp), nướng.

     

    Bọ nước

    Những món vừa ăn vừa rùng mình chỉ có ở Tây Bắc

    Bọ nước (ấu trùng chuồn chuồn) là món ăn không phải lúc nào cũng có sẵn. Bọ nước bắt ở sông suối quanh khu vực Điện Biên vào thời điểm tháng 3, tháng 4. 

    Những món vừa ăn vừa rùng mình chỉ có ở Tây Bắc

    Bọ làm sạch chân, lươn băm nhỏ, cho thêm gia vị, tiêu rừng (mắc khén), và rau thơm, tía tô, hành, húng tròn, húng chó, ớt, xả bọc lá chuối, sau đó vùi than hồng khoảng 40 phút. Khi chín, món này có vị thơm của rau và hạt tiêu rừng, bọ bùi, dai và hơi ngậy.

     

    Muồm muỗm

    Những món vừa ăn vừa rùng mình chỉ có ở Tây Bắc

    Muồm muỗm thường xuất hiện vào thời điểm đầu hè. Cách chế biến món này khá dễ, sau khi làm sạch, muồn muỗn om với nước măng chua (hoặc giấm gạo) trên bếp lửa liu riu. Cạn nước, cho mỡ (hoặc dầu ăn) vào, đảo đều tay trên bếp to lửa; khi nào nghe tiếng nổ lách tách tức là muồm muỗm đã chín giòn, cho bột canh (hoặc nước mắm, hạt nêm...) vừa đủ cùng với mì chính, một chút ớt tươi. Cuối cùng, cho lá chanh thái chỉ nhỏ vào, đảo đều chín tới lá chanh là bắc chảo ra được. Muồm muỗm rang chín có màu vàng sậm, rất thơm ngậy.

    Thông thường mọi người chế biến món này bằng cách vặt cánh,cắt bỏ chân, rửa sạch rồi đem lên rang với hành khô, gừng, lá chanh, nước mắm...

     

    Bọ xít

    Những món vừa ăn vừa rùng mình chỉ có ở Tây Bắc

    Bọ xít là món đặc trưng ở các tỉnh vùng núi phía bắc, thời điểm nhiều nhất là đầu tháng 5, khi hoa nhãn, xoài, vải bắt đầu nở. 

    Bọ xít chế biến cầu kỳ bởi nếu không làm sạch người ăn vào sẽ mất vị giác ít hôm. Người dân bắt được sẽ ngâm nước gạo nhiều giờ, nhiều lần để khử hết mùi, sau đó bỏ cánh, đầu, chân rồi đun với nước chua cho tới khi chín giòn. Món này khi ăn phải đảm bảo mùi thơm ngậy, mùi lá chanh, nhai có vị giòn, bùi không bột.

     

    Sâu tre

    Những món vừa ăn vừa rùng mình chỉ có ở Tây Bắc

    Từ tháng 12 đến 1 Dương lịch, người Thái tinh mắt sẽ nhìn ra cây tre bị đục lỗ (trong lỗ luôn có một lớp màng bảo vệ sâu bên trong) là cây tre bánh tẻ, đang mọc nhưng bị đứt đoạn, có cây phình to. Bên trong luôn chưa ít nhất 500 gr đến hơn 1 kg sâu trắng muốt. Sâu tre có thể hấp hoặc chao trên dầu nóng. Do món này rất ngậy và giàu đạm nên phải có thứ nước chấm đặc trưng đi kèm là nước măng chua.

    Món ăn này được chế biến khá đơn giản chỉ cần hấp hoặc rang, gần chín cho thêm lá chanh là khi ăn đã rất tuyệt.

     

    Nhộng ong

    Những món vừa ăn vừa rùng mình chỉ có ở Tây Bắc

    Mùa ong đất xây tổ là vào cuối mùa xuân, đầu mùa hạ. Đến khoảng cuối mùa mưa là những tổ ong đã chứa đầy nhộng. Ong đất rất nguy hiểm, nếu để bị đốt sẽ khiến người bắt thiệt mạng. Giá trị của món ăn này cũng khá đắt đỏ, từ 600 đến cả triệu đồng một cân. 

    Người dân vẫn hay mua về chế biến thành món ăn, có người để ngâm rượu.

     

    Nhái (ngóe)

    Những món vừa ăn vừa rùng mình chỉ có ở Tây Bắc

    Nhái (tiếng địa phương gọi là ngóe), thân hình giống loài ếch nhưng nhỏ hơn rất nhiều. Sống trong môi trường ẩm thấp để da tiếp đất, thịt nhái khá tanh nên khi chế biến kèm theo nhiều gia vị. Người Thái ở Điện Biên vẫn chế biến thành món nhái om măng hoặc nhái chiên sả.

     

    Cá suối

    Những món vừa ăn vừa rùng mình chỉ có ở Tây Bắc

    Cá suối thường là những loài cá có độ tanh ít, thịt chắc và thơm nên rất được ưa chuộng. Các món cá đều được chế biến rất cầu kỳ, có khi làm gỏi, nướng, hun khói, sấy. Gia vị cần thiết nhất để tạo nên hương vị món cá đó là ớt, mắc khén và muối trắng.

     

    Cá thủy tinh

    Những món vừa ăn vừa rùng mình chỉ có ở Tây Bắc

    Cá thủy tinh (cá ngần), thường xuất hiện vào đầu hè. Cá có màu trắng chỉ đôi mắt màu đen. Sống ở sông đà, kiếm ăn tầng mặt nước. Nhiều tỉnh thành có thể bắt gặp cá này như Hải Phòng, Hòa Bình, Thái Bình, tuy nhiên không phải lúc nào cũng có thể mua được. Cá là món ăn đặc sản của người dân Tây Bắc. Thịt cá dẻo thơm, xương mềm có thể chế biến thành các món: Canh chua, rán với trứng, cuốn lá lốt, chả cá...

     

    Theo Ngọc Thành - VnExpress

  • Mắc khén - "hạt tiêu rừng" của riêng miền Tây Bắc

    Mắc khén đứng đầu trong các loại gia vị của đồng bào dân tộc miền núi. Có người gọi Mắc khén là hạt tiêu rừng và khiến ta dễ liên tưởng đến cây hồ tiêu dại mọc trong rừng nhưng không phải. Mắc có nghĩa là quả, còn Khén là một loại cây thân gỗ lớn mọc trong rừng đại ngàn.
     
     
    Cây Mắc khén là loại cây dại thuộc họ hồi, có tinh dầu và hương thơm, trở thành huyền thoại và làm nên loại gia vị đậm đà không thể thiếu trong bữa ăn đồng bào miền Tây Bắc. Cây Khén ra hoa vào dịp cuối xuân và đậu thành những chùm quả nhỏ như những chùm hạt rau mùi già. Cuối hè, người ta thu hái Mắc khén bằng cách leo lên cây hái hay dùng câu liêm kéo những cành nhỏ có quả rơi xuống và buộc lại thành chùm đem phơi nắng cho khô hoặc treo lên gác bếp dùng dần. Khi dùng Mắc Khén, người ta bứt một nắm quả cho vào chiếc bát con. Chọn lấy một viên than củi đang cháy đượm nhất bỏ vào bát và lắc đều tay để nướng mắc khén. Khi thấy mùi thơm ngào ngạt bay ra thì gắp than ra, khẽ thổi cho bay hết tàn than rồi dùng chuôi dao giã nhỏ hạt Mắc khén thành bột để chế biến đồ chấm hay làm gia vị cho các món ăn.
     
     
    Thời xa xưa, khi những cánh rừng đại ngàn còn che chở bản làng, khi thú rừng rong chơi và những người thợ săn vẫn đêm đêm lặn lội theo dấu con mồi, thì Mắc khén  nhất quyết không thể thiếu trong túi đồ thợ săn. Đồng bào Thái đen cho rằng, con thú sẽ được Thần rừng cho sống lại sau khi chết. Bởi vậy, mỗi khi bắn được con mồi, họ không bao giờ lấy bộ lòng.
     
    Xả thịt con mồi ngay giữa rừng, thợ săn sẽ đặt lại toàn bộ tim, gan, ruột của nó lên tảng đá và khấn khứa, đại ý: “Thưa Thần rừng, hôm nay tôi mượn một con vật của Thần. Tôi đã để lại bộ lòng, xin Thần cho nó cái vỏ khác để nó lại được chạy nhảy…”. Bài khấn xong là lúc những người đi săn có quyền thưởng thức phần còn lại của con thú. Và tục lệ bắt buộc phải ăn hết con mồi tại chỗ đã khiến việc sử dụng Mắc khén xát vào bên trong, bên ngoài con vật trước khi nướng trở thành thông dụng.
     
     
    Mắc khén  là loại gia vị miền Tây Bắc đã đi vào huyền thoại, không thể thiếu trong bữa ăn của người Thái đen được làm chủ yếu từ quả Mắc Khén.
     
    Mắc, theo tiếng Thái, có nghĩa là quả. Nhưng còn Khén thì không hề có chữ gì đồng nghĩa hay cả trong ngôn ngữ bản địa. Bởi vậy Mắc khén mãi mãi sẽ là một tên riêng, tự nhiên tồn tại như chính bản thân núi rừng hoang dã, bí hiểm mà cũng quá đổi quen thuộc với con người. Thực tế Mắc khén là một loài cây dại thuộc họ hồi, có tinh dầu, khi đơm trái sẽ kết thành những chùm quả nhỏ li ti, tỏa hương thơm dịu. Đồng bào Tây bắc chỉ việc lên sườn núi, tìm những cành Mắc khén chín về phơi khô rồi xoa cho quả rời cành.
     
     
    Hầu như không có bữa ăn nào quan trọng của người Thái lại thiếu được Mắc khén, giống như một dạng muối vừng với người Kinh. Quả Mắc khén sau khi thu về, bắc chảo rang nóng. Tiếp đó, đưa vào giã thành bột mịn. Tuy nhiên để chế ra được hương vị thơm phức, chuyên dùng ăn với xôi nếp nương, còn phải qua nhiều công đoạn khác. Đó là dùng ớt khô bỏ hạt nướng giòn, muối rang, rau mùi tầu xắt nhỏ rang khô, tất cả đều giã thành bột mịn. Sau khi trộn đều hỗ hợp trên thì tạo thành Mắc khén, một thứ bột mùi thơm hăng hắc nhưng lại dịu như vị ô mai và phảng phất chất núi rừng, thơm cay nồng nàn như hương hồi, quế.
     
    Mắc khén  thông dụng nhất dùng để chấm những chõ xôi nếp nương, thu hoạch từ cánh đồng Tú Lệ, dưới chân đèo Khau Phạ, thì chắc chắn không có hương vị nào sánh bằng: “Nếp Tú Lệ/Tẻ Mường Lò/ Xòe Kinh Bạc”.
     
     
    Loại gia vị này còn giúp thịt thú rừng trở nên thơm ngon đặc biệt. Không chỉ dùng cho những loài thú săn trên rừng, Mắc khén  còn được người Thái đen sử dụng trong cách nướng cá ”pa pỉnh tộp” có nghĩa là “cá nướng gập” đầy quyến rũ. Để làm được món ''Pa Pỉnh Tộp'', người ta chọn loại cá chép nặng khoảng 0,5kg trở lên, béo và còn tươi sống. Trước khi mổ phải cạo sạch vảy để khi ướp gia vị ngấm đều vào cá. Sau khi mổ cá và bỏ mật cá bắt đầu ướp và nhồi gia vị. Người ta không mổ cá đằng bụng mà lại mổ đằng dọc sống lưng để khi gấp úp con cá mềm mại gấp dễ dàng hơn và để phần gia vị nhồi trong bụng cá khi tiếp xúc với than hồng sẽ toả mùi thơm ngấm vào thịt cá.
     
    Người chưa ăn không thể cưỡng lại được khi tưởng tượng, huống gì khách đã ăn quen. Kiểu gập cá độc đáo này giúp cá nướng chín đều, bản thân nước bên trong được giữ lâu hơn và khiến thịt cá không bị cháy. Hương vị của Mắc khén  tỏa ra thơm phức, vị dịu của mắc khén, vị cay nồng nàn của ớt, vị mặn mòi của muối.
     
    Có thể Mắc khén là một trong những loại gia vị độc đáo mà núi rừng Tây Bắc đã ban tặng người dân nơi đây, góp phần làm cho ẩm thực Việt Nam thêm phần phong phú. Ai đã được từng thưởng thức những món ăn chế biến từ gia vị này chắc chắn sẽ không thể quên được hương vị đặc trưng của nó mà không phải ở đâu cũng tìm thấy được.
  • Tam Thất Bắc - dược liệu quý hiếm vùng núi cao Tây Bắc

    Tam thất bắc là loại cây nhỏ, thuộc họ nhân sâm. Thân mọc đứng, vỏ cây có rãnh dọc, lá chét mọc vòng 3-4 lá một, cuốn lá dài 3-6cm, ở mép lá có hình răng cưa. Là thực vật sống lâu năm nên muốn thu hoạch tam thất phải mất từ 3 đến 7 năm. Rễ tam thất có hình con quay, theo những người có kinh nghiệm thì củ nào giống ốc đá, màu xám xanh hơi đen, nâu, bóng sáng là tốt. Bên ngoài củ Tam thất còn có vết lõm và những lằn dọc không liên tục.

     

    Hình ảnh thường thấy của cây tam thất 

    Cây tam thất có tên khoa học là Panax Pseudo-Ginseng (theo Wall) thuộc họ ngũ gia bì .Thảo dược này ưa khí hậu lạnh, sống ở độ cao trên 1000 mét nên rất hiếm. Ở nước ta tam thất được tìm thấy ở các tỉnh vùng núi phía Bắc như Sapa, Lạng Sơn, Cao Bằng…

    Hoa tam thất cũng là một dược liệu quý giúp an thần, bồi bổ sức khỏe

    Công dụng của Tam Thất Bắc
    Ẩn chứa đằng sau một dáng dấp nhỏ nhắn là những giá trị tuyệt vời về mặt y học. Với nhiều người tam thất được coi như một thứ tài sản lớn mà có vàng họ cũng không đổi “kim bất hoán”.

    Đã từ rất lâu tam thất được dùng trong các bài thuốc cầm máu, tiêu sưng, giảm đau, trị bế kinh, rong kinh… hơn cả là đối với phụ nữ ở vào độ tuổi sinh đẻ. Có tam thất như có thêm sự an tâm, giảm nguy cơ tử vong vì mất máu khi sinh cho các bà mẹ.

    Ngày nay, khi nền y học phát triển cũng là khi cây tam thất bước chân vào khoa học. Qua các công trình nghiên cứu, cho thấy ngoài các công dụng truyền thống người ta còn phát hiện các thành phần hóa học như Arasaponin A, Arasaponin B. Saponin … có chức năng hỗ trợ điều trị các bệnh về tim mạch, hỗ trợ phòng ngừa ung thư và có khả năng ức chế căn bệnh này.

    Cách dùng Tam Thất Bắc hiệu quả:

    • Giống như nhân sâm, tam thất có thể nghiền nát thành bột hoặc cắt lát để sử dụng. Bộ phận thường dùng là củ rễ.
    • Sau khi đào về sẽ phải rửa sạch qua nước ấm, sau đó đem phơi nắng hoặc sấy khô ở nhiệt độ 50 đến 60oC
    • Để cầm máu, giảm đau thì uống từ 10 đến 20g tam thất mỗi ngày chia ra uống 4 đến 5 lần.
    • Các trường hợp chữa máu ra nhiều khi sinh thì uống tam thất dạng bột mịn với nước cơm, khoảng 8g/ngày. Chia ra uống 2 đến 3 lần. 

    Lưu ý: củ tam thất mọc hoang ở rừng núi thường cứng, nặng, xám đen, thịt xanh xám, chỗ cắt mịn. Tam thất được gây trồng thì có da nhẵn, ít đắng hơn.

  • Thịt khô trên mâm cỗ Tết người Tây Bắc

    Đến thăm Tây Bắc những ngày đầu xuân, người ta không chỉ ngây ngất trước cảnh sắc thiên nhiên màu sắc mà còn bởi các đặc sản miền sơn cước. Trong mâm cỗ Tết, người Tây Bắc không bao giờ thiếu hai món thịt khô nổi tiếng, đó là thịt gác bếp và lạp xưởng gác bếp.

    Thịt gác bếp là món đặc sản thường thấy trong bữa ăn của người Thái, đặc biệt trong các dịp lễ Tết. Món thịt này thường được làm từ phần thịt nạc trâu, bò hoặc lợn nhà nuôi thả rông trên các vùng núi đồi Tây Bắc. Mỗi mùa Tết đến xuân về, nhà nhà chuẩn bị tất bật, gom góp gọi nhau mổ lợn từ sớm để làm lạp xưởng, thịt gác bếp đủ để cả gia đình ăn trước, trong và sau Tết.

    thịt khô, thịt hun khói, lạp xưởng, món ngon tây bắc
    Thịt tươi được hun trên bếp lửa

    Mỗi phần thịt đều được tận dụng với mục đích khác nhau. Các phần đầu, chân, mỡ lá, nội tạng được cất đi để chế biến thành các món khác, giữ riêng phần thịt nạc, đặc biệt là nạc thăn để làm thịt hun khói. Khi chế biến, người ta lọc từng miếng thịt như con chì nhưng to như bàn tay. Thịt này phải không còn dính chút mỡ hay gân nào rồi thái dọc thớ để miếng thịt dễ chín.

    Thịt tuyệt đối không rửa, mà giữ sạch từ khi mới mổ, đem ướp gia vị đã chuẩn bị sẵn. Đây là khâu cực kì quan trọng quyết định vị ngon của thịt gác bếp. Các loại gia vị phải đầy đủ, cân đối để miếng thịt khô có vị đậm đà, vừa vặn, hợp khẩu vị của nhiều người. Có nhiều loại gia vị được sử dụng như tỏi, gừng, muối, đường… nhưng không thể thiếu hạt tiêu rừng, hay mắc khén, tạo nên hương vị riêng biệt của thịt gác bếp Tây Bắc.

    thịt khô, thịt hun khói, lạp xưởng, món ngon tây bắc

    Thịt sau khi tẩm ướp gia vị đủ thời gian sẽ được xiên vào những thanh tre vót nhọn, cách đều nhau để đảm bảo khi hun khói len được toàn bộ miếng thịt. Lần lượt từng dây thịt xiên được gác lên bếp củi đang cháy. Yếu tố quyết định thịt gác bếp có ngon hay không chính là khói bếp. Vậy nên bếp lửa cần đun sao cho khéo để khói đủ ươm màu, ươm mùi cho miếng thịt mà bên trong vẫn có màu hồng đẹp mắt.

    Dù là chín bằng khói củi, nhưng không phải loại củi nào cũng được sử dụng trong công đoạn chế biến thịt gác bếp. Củi phải chọn từ những cây khi đốt cho khói có mùi thơm và nhất thiết không dùng củi tre. Cứ thế giữ lửa tới 3 ngày 3 đêm cho miếng thịt quắt lại chỉ còn khoảng 1/3 rồi đem hong khô lần cuối cho ngót hẳn nước. Khi đó thịt đã ám khói đen và khô lại, thấm hết gia vị vào trong, trên bề mặt vẫn còn lấm tấm gia vị, hạt ớt, hạt tiêu rừng ngon mắt.

    Thịt gác bếp là đặc sản của nhiều tộc người ở Tây Bắc. Thịt lợn hun khói đã ngon, thịt bò hay thịt trâu hun khói còn bội phần hấp dẫn. Những miếng thịt khô quắt, đen óng vì ám khói nhưng khi xé ra lại có màu đỏ tươi, ăn thấy vị ngọt, cay, bùi và mang hương thơm đặc trưng vô cùng ấm áp của khói bếp. Thịt gác bếp dậy mùi mắc khén, chấm cùng chẳm chéo Tây Bắc, nhấp cùng ngụm rượu nếp vùng cao lại càng thơm ngon đặc biệt.

    thịt khô, thịt hun khói, lạp xưởng, món ngon tây bắc

    Ngoài thịt gác bếp, đồng bào Tây Bắc còn có món lạp xưởng gác bếp để ăn Tết. Để làm lạp xưởng cần có lòng non làm vỏ. Lòng cạo bỏ bớt lớp vỏ ngoài, rửa sạch nhiều lần, cuối cùng là rửa bằng rượu. Thịt làm lạp xưởng cần cả nạc cả mỡ, tẩm ướp gia vị cũng giống thịt hun khói rồi được nhồi vào lòng non. Xong xuôi, người Tây Bắc cũng mang gác bếp theo quy trình và thời gian như làm thịt gác bếp.

    thịt khô, thịt hun khói, lạp xưởng, món ngon tây bắc

    Lạp xưởng gác bếp có vị béo, giòn. Món thịt nguội này có thể để quanh năm không hỏng, ăn khi nào cũng thấy ngon. Khi ăn có thể rán vàng đều, nướng trên than hoa rồi thái lát mỏng chấm tương ớt, chẳm chéo, ăn kèm với rau thơm, dưa chuột hoặc hấp vài phút cho mềm rồi xào cùng ngồng tỏi tươi... Lạp sườn có thể ăn với xôi trắng, dùng như món mặn trong bữa cơm hằng ngày, đặc biệt dùng làm mồi nhậu ngon hết ý. Dẫu người kén ăn đến mấy cũng dễ dàng bị chinh phục, rồi nhớ nhung hoài không thôi.

    Những ngày cận Tết, đến thăm gia đình nào trên vùng Tây Bắc cũng có thể thấy lủng liểng trên chái bếp những khúc lạp xưởng, hay thịt gác bếp ngon lành. Món thịt nguội không thể thiếu trong mâm cỗ Tết vùng cao, là nét đẹp cần gìn giữ lâu dài của các tộc người sinh sống trên mảnh đất biên cương Tây Bắc.

    Theo MASK Online

  • Pa Pỉnh Tộp - đặc sản ẩm thực độc đáo của người Thái ở Tây Bắc

    Tục ngữ Thái có câu: "Cáy măn mọk má ha, báu to pa pỉnh tộp ma sú" nghĩa là: "Gà tơ tần đem đến, không bằng cá Pỉnh Tộp đem cho" để nói lên sự sang trọng và khéo léo, tinh tế của món ăn rất đặc biệt này.

    Với đồng bào Thái ở vùng tây bắc thì xôi nếp, cá và các loại củ, quả được xem như là thực phẩm quan trọng trong bữa ăn hàng ngày.

    Pa Pỉnh Tộp. Noong Chứn, Điện Biên, du lịch, ẩm thực
    Mâm cơm của dân tộc Thái ở bản Noong Chứn, Điện Biên.

    Để làm được món Pa Pỉnh Tộp, người ta chọn loại cá chép khoảng 0,5-0,8kg, béo và còn tươi sống.

    Theo anh Lò Văn Phong, phụ trách bản hoá bản Noong Chứn, Điện Biên, trước khi mổ cá phải cạo vảy để gia vị ngấm đều, không mổ cá đằng bụng mà mổ dọc sống lưng để khi gấp úp, con cá mềm mại dễ gấp hơn và để phần gia vị nhồi trong bụng cá khi tiếp xúc với than hồng sẽ toả mùi thơm ngấm vào thịt cá. Dao mổ cá phải thật sắc, khía thẳng, dứt khoát, không khía nhiều lần gây nát cá.

    Pa Pỉnh Tộp. Noong Chứn, Điện Biên, du lịch, ẩm thực
    Món Pa Pỉnh Tộp của đồng bào dân tộc Thái ở Điện Biên. 

    Gia vị để chế biến món cá Pỉnh Tộp vô cùng phong phú. Ngoài sự pha trộn khéo léo và hợp lý giữa các loại gia vị cay, chua, đắng, mặn, ngọt như ớt, tỏi, gừng, sả, riềng, mắc khén và các loại rau thơm, Pa Pỉnh Tộp phải được ướp bằng ớt bột khô thì khi nướng cá mới thơm ngon và ướp đậm muối hơn một chút so với cá đem rán.

    Pa Pỉnh Tộp. Noong Chứn, Điện Biên, du lịch, ẩm thực
    Sau khi chế biến và tẩm ướp các loại gia vị, cá được kẹp bằng vỉ sắt để chuẩn bị nướng.

     

    Pa Pỉnh Tộp. Noong Chứn, Điện Biên, du lịch, ẩm thực
    Một phụ nữ Thái đang nướng cá trên bếp than hồng.

    Sau khi tẩm ướp khoảng 5-10 phút, người ta nhồi vào bụng cá những loại rau thơm đã được thái nhỏ như: gừng, tỏi, sả, hành, rau thơm rừng và mầm măng của cây sa nhân. Cá được gấp úp đôi lại, xoa một lớp bột riềng và thính gạo ra ngoài rồi kẹp vào vỉ nướng.

    Trước kia, người ta dùng cây tre bương dày, tươi càng tốt, chẻ thành đôi hoặc ba, bốn chạc để kẹp con cá cho chắc chắn, sau đó nướng cá trên cây củi gỗ núi đá thì ngày nay họ đều dùng kẹp bằng sắt để ép cá và nướng.

    Pa Pỉnh Tộp. Noong Chứn, Điện Biên, du lịch, ẩm thực
    Đông đảo du khách lạ lẫm với món ăn này

    Pa Pỉnh Tộp được người Thái dùng với xôi nếp, chẳm chéo. Xôi có đủ màu vàng, tím được chế biến từ lá và hoa của các loại cây trên rừng. 

    Pa Pỉnh Tộp. Noong Chứn, Điện Biên, du lịch, ẩm thực
    Xôi đa sắc màu được chế biến từ lá và hoa của các loại cây trên rừng.

    Ngoài ra, ẩm thực miền này còn rất nhiều đặc sản hấp dẫn đủ sức làm say đắm bất cứ du khách nào từng nếm qua như thịt lợn cắp nách nướng, thịt trâu gác bếp, cải mèo, măng đắng, trà shan tuyết cổ thụ… Tất cả đều từ những nguyên liệu đơn giản mà tươi ngon, hấp dẫn đến nao lòng.

     

    Theo VietNamNet

  • Táo mèo - loại quả nhiều công dụng nơi miền Tây Bắc

    Táo mèo và đường kết hợp với nhau tạo ra một dung dịch vàng, sóng sánh như mật ong, có vị chua mát, ngọt thanh, không còn vị chát, mùi thơm nhẹ nhàng.

    Táo mèo (đông y gọi là quả sơn tra) được trồng ở nhiều tỉnh vùng Tây Bắc như Yên Bái, Lào Cai, Sơn La,… Nhưng có lẽ nổi tiếng nhất, có mùi vị đặc trưng nhất là táo mèo ở Yên Bái, nơi có khí hậu mát mẻ, ở độ cao trên 1.000m. Táo mèo đã trở thành một “đặc sản” của vùng đất này.

    Cây táo mèo mọc rải rác trên những cánh rừng, chiều cao trung bình chừng 7 - 10m, thân gỗ, tán lá rộng. Tháng 9, tháng 10 là mùa thu hoạch. Thời điểm này khắp các chợ huyện và nhiều nhất là chợ ga Yên Bái ngập tràn táo mèo. Những người dân địa phương sành ăn không tham chọn quả to, đẹp mã mà thường lựa những quả nhỏ, quả có sâu vì đây mới thực là những quả táo ngon.

    Táo mèo là một loại quả đa năng, vừa là một vị thuốc quý, vừa dùng để giải khát mát và bổ trong mùa hè. Hạt và ruột có nhiều tính năng giảm béo, hạ huyết áp, an thần cân bằng sinh lý và phòng chống các biến chứng do tăng huyết áp gây ra…Chính vì vậy, táo mèo được dùng nhiều trong các vị thuốc bồi bổ tinh thần và chế thành rượu vang khai vị được nhiều người ưa thích.

    Quả táo mèo đem muối sổi với đường, muối và ớt cũng là một món ngon tuyệt vời, vị cay, mặn, ngọt, giòn và vương vấn mãi mùi thơm riêng có.Táo mèo và đường kết hợp với nhau tạo ra một dung dịch vàng, sóng sánh như mật ong, có vị chua mát, ngọt thanh, không còn vị chát, mùi thơm nhẹ nhàng. Với những người khéo tay, quả táo mèo được chế biến ra nhiều loại thức quà như: xi rô, mứt, ô mai. Để chế biến thành ô mai, người ta đem táo sấy khô rồi nấu với đường, rồi lại sấy khô. Để món ô mai thêm đậm đà, người chế biến thường xay gừng rồi nấu cùng sẽ được một món ô mai rất ngon, vô cùng hấp dẫn dùng trong những tháng mùa đông và trong dịp tết Nguyên đán.

    Ngoài ra, dân địa phương còn cắt táo mèo thành những lát mỏng, đem phơi khô, dùng để pha nước như dùng trà, rất mát.

    Còn gì tuyệt vời hơn khi bạn đến với Yên Bái, ngắm ruộng bậc thang mùa lúa chín và thưởng thức những quả táo mèo ngọt giòn, mang theo vị hơi chát, chua thanh của thứ quả kết tinh từ hương rừng, gió ngàn.Khách du lịch về Yên Bái cũng bị thu hút bởi những bình rượu táo mèo, có thể gọi là “mỹ tửu” của vùng sơn cước. Một loại rượu rất dân dã và độc đáo. Cách ngâm cũng đơn giản, táo mèo rửa sạch, cắt bỏ 2 đầu rồi ngâm cùng rượu nấu. Rượu táo mè có màu nâu sóng sánh và vị thơm ngọt rất đặc trưng, thực khách không thể cưỡng lại.

  • Đến Mộc Châu không ăn 8 món này thì "thiệt đơn, thiệt kép"

    Thời điểm này Mộc Châu vô cùng nên thơ khi tràn ngập sắc hoa núi rừng. Nếu lên Mộc Châu ngắm hoa, thăm thú đừng quên nếm thử những đặc sản tuyệt ngon này.

    1. Bê chao

    Bê chao là một trong những đặc sản Mộc Châu mà được nhiều người yêu thích nhất. Nhâm nhi miếng thịt thơm ngọt, miếng rau chấm cùng nước tương bùi bùi, miếng da dai dai, nhấp thêm ngụm rượu táo mèo lại càng làm dậy lên cái vị đậm đà của đặc sản phố núi, khiến cho du khách đã thưởng thức một lần sẽ chẳng thể nào quên. Bạn có thể ăn ở một số quán ở tiểu khu Chiềng Đi, thị trấn Công Trường Mộc Châu, nằm ngay trên đường QL6 như quán: 64 Mộc Châu, Xuân Bắc 181, 70 Mộc Châu…

     

    bê chao

     

    2. Cải mèo chấm trứng xì dầu

    Cải mèo Mộc Châu ngoài ăn luộc còn có thể dùng ăn lẩu, xào với thịt hun khói, thịt gà… món nào cũng đặc sắc và có hương vị riêng. Nhưng ăn luộc chấm mắm dầm trứng vừa bình dị mà lại giữ được nhiều hương vị của cây cải mèo Mộc Châu nhất. Cái vị đăng đắng, ngăm ngăm vừa phải của rau quyện với vị ngọt, vị thơm, vị mặn của xì dầu, rồi là cái béo của lòng đỏ trứng gà... tất cả hòa thành một thứ hương vị rất mê hoặc. Ăn một miếng rồi lại muốn ăn thêm, ăn một lần rồi lại muốn ăn thêm lần nữa. 

    cải

     

    3. Gà đồi

    Đến Mộc Châu, bạn cũng đừng bỏ qua cơ hội thưởng thức món gà đồi được người dân nuôi thả trên đồi nên khi ăn cảm nhận rõ được độ ngọt, chắc của thịt. Gà Mộc Châu thường chỉ khoảng trên dưới 1kg, chế biến được thành nhiều món, nhưng ngon nhất là luộc chấm với gia vị. Nếu thời gian không gấp gáp, bạn nên ăn thử món gà nướng được người Thái tẩm, ướp gia vị rất cầu kỳ ăn cùng xôi “tình yêu”, cơm lam thì không gì ngon bằng.

    gà

     

    4. Thịt lợn bản nướng mắc khén

    Mắc khén đứng đầu trong các loại gia vị của đồng bào dân tộc miền núi. Mắc khén, một thứ bột mùi thơm hăng hắc nhưng lại dịu như vị ô mai và phảng phất chất núi rừng, thơm cay nồng nàn như hương hồi, quế. Thịt lợnnướng mắc khénlà một sự mời gọi không thể chối từ. Lợn chỉ hơn chục cân, nuôi thả rong nên thịt săn chắc, không mỡ. Trong tiết trời lạnh, khách phương xa thích ngồi bên bếp than hồng nướng từng xiên thịt lợn, hay khoai, bắp... tỏa hương thơm lôi cuốn.

     

    5. Cá suối Mộc Châu 

    Cá suối có nhiều loại: Cá trắng thân dẹt như cá mương, cá hoa, cá bống, lại có loài cá có màu đen lẫn với màu rêu đá. Cá suối Mộc Châu thường không lớn, chỉ bằng ngón tay, to lắm cũng chỉ như cán dao. Điều đặc biệt là cá suối không hề có vị tanh. Cá bắt được, nhóm lửa nướng sơ ngay bên bờ suối để có thể để dành ăn lâu dài hoặc đem lên bán cho các nhà hàng trên thị trấn. Cá suối Mộc Châu chiên vàng giòn tan, vị bùi béo.

    cá suối

     

    6. Thịt trâu gác bếp 

    Thịt trâu gác bếp là món ăn đặc sản thường thấy trong bữa ăn của người Thái đen. Món thịt này thường được làm từ bắp của những chú trâu, bò nhà thả rông trên các vùng núi đồi Tây Bắc. Khi làm, người ta lóc các thớ thịt ra thành từng miếng kiểu con chì và thái dọc thớ, rồi hun bằng khói của than củi từ các núi đá. Với miếng thịt trâu thành phẩm, mùi khói gần như vẫn còn nguyên, song lại không gây khó chịu.

    5 đặc sản Tết có giá tiền triệu vẫn đắt hàng 5

    Thịt gác bếp khô nhưng vẫn giữ nguyên mùi vị đặc trưng, nhất là độ ngọt của thớ thịt. Khi ăn người ta xé nhỏ dọc theo thớ, có thể ăn ngay hoặc được coi là món nhậu chính uống cùng rượu ngô. Món này được chế biến hoàn toàn tự nhiên, không có chất bảo quản nhưng vẫn để dự trữ được khoảng 1 tháng.

    7. Xôi ngũ sắc

    Xôi ngũ sắc là món ăn truyền thống của đồng bào dân tộc ở nhiều tỉnh miền núi phía Bắc, trong đó có Mộc Châu. Gọi là xôi ngũ sắc vì một đĩa xôi gồm rất nhiều màu, thông thường là năm: đỏ, xanh, vàng, nâu, trắng. Các màu xôi mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc, năm màu xôi tượng trưng cho ngũ hành trong trời đất: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Không chỉ đẹp và mang ý nghĩa tâm linh, xôi ngũ sắc còn rất tốt cho sức khỏe người ăn khi trong mỗi loại lá cây, củ quả tạo nên màu sắc của đĩa xôi 5 màu đều là những loại cây dược liệu mang nhiều lợi ích đối với sức khỏe.

    xôi

     

    8. Dưa chuột mèo

    Dưa mèo là loại dưa được trồng chủ yếu ở vùng Tây Bắc và Bắc Lào, trồng xen lẫn trong các nương lúa trên núi đá. Dưa mèo hoàn toàn sạch không một chút chất kích thích, bảo quản hay bất kể loại chất hóa học nào vì người Mông Mộc Châu trồng chủ yếu là để ăn chứ không trồng vì mục đích sản xuất kinh doanh.  

    dưa mèo

    Giống dưa này có vỏ trơn bóng, màu xanh sáng xen lẫn những sọc xanh mờ, dưới bàn tay khéo léo của người Mông, với địa thế trồng và chất đất, loại dưa này sinh trưởng rất tốt. Quả dài 25-30cm, đường kính quả to nhất đo được đến 8,5cm, ruột trắng, cùi dày, nhiều hạt. Dưa không ngọt, ăn nhạt, khi ăn có thể chấm với bột canh hay bất kể gia vị nào tùy khẩu vị của từng người.

     

     

    Theo Tri thức trẻ

Đăng tải...
Đăng tải...